Hiển thị các bài đăng có nhãn Tây Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tây Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 11, 2010

Miếu ông hay bị sét đánh, miếu bà thì không


Bà Phạm Thị Na, 80 tuổi, là thủ nhang của miếu Phong Cầu (Kiến Thụy, Hải Phòng) kể chuyện tại sao lại có giai thoại miếu ông luôn bị sét đánh, xây mấy lần không xong còn miếu bà thì không bao giờ bị động đến.

Bà kể: Cánh đồng Cửa Miếu khi xưa toàn là sông, biển. Thời nhà Mạc đến làm đường từ Cát Bi xuống cống Cổ Chai để cho quân tiến lui lấn biển, khai hoang lập ấp. Bà đẻ ra mẹ chồng tôi cũng ra đắp đê nhưng đến khi chia ruộng cho dân vì không có con trai nên không được chia bà kêu ầm lên: “Ối dân làng ôi! Tôi bê cây trang cây sú (loại cây nước mặn) to bằng cái thúng, cái nia mà không cho tôi một sào ruộng, thước đất nào là sao?”.
Trước khi thành ruộng, quan quân nhà Mạc đắp đê khó lắm. Hễ đắp buổi sáng, buổi tối nước ngập xói lở xuống sông xuống biển hết. Khấn vái mãi, hà bá hiện lên, bảo phải cúng một người xuống sông mới đắp nổi. Dân làng sợ quá thuê ông bà nhà tơ (người hát ả đào) ra hát tế lễ. Họ bắc một cây cầu tre từ bờ này sông sang bờ kia. Trước đó, vì ham tiền, ông nhà tơ đã ngầm bán bà vợ mình cho hà bá để cúng tế lúc nào bà không hay.

 Bà vận bộ quần áo mớ ba mớ bảy múa hát ở giữa cầu thì thình lình hai bên rút cầu, bà biến xuống sông. Ông nhà tơ xách mấy xâu tiền bỏ vào chiếc khăn vuông đang đội trên đầu, gói lại rồi đi. Ông đi về đến chỗ miếu đôi liền bị sét đánh chết, mối xông ngay không còn gì. Hễ cứ lập miếu ông lên thờ sét lại đánh tan nên lập bao lần cũng không được đến giờ vẫn không có miếu mà chỉ có cái gò đất.

Lại kể bà khi biến xuống sông, không tìm thấy hài cốt, dân làng mới lấp được sông, đắp đường, súc chua, lùa mặn, cải tạo thành ruộng, thành ấp. Nhà nào có suất đinh, mỗi suất được chia 3 sào ruộng, dân làng mải làm quên lập miếu bà. Một lần ngài hiện lên báo mộng nếu không lập miếu thờ thì có cụ tiên, cụ thứ, cụ chỉ (những chức danh thời xưa ở làng xã, được trọng vọng, ngồi chiếu trên mỗi khi có cỗ bàn việc làng, việc xóm. Để có chức danh này người ta thường phải dùng tiền để mua) là bà vật chết hết.

 Dân làng sợ quá, ra Giếng Đáy Quảng Ninh mua gạch ngói rồi lên rừng tìm gỗ về dựng miếu. Miếu được xây bằng vôi, cát trộn đường đen. Xây xong, dân phong chức cho bà là Đức thánh mẫu vua bà.

Ngày tôi còn bé, Tây ở trong làng còn bắn đạn đoàng đoàng, mẹ tôi vẫn bưng cái thúng trên để trầu không sang bốt Tây đi làm liên lạc cho Việt Minh. Mẹ lội qua đầm lầy bí mật dán truyền đơn ngay ở cổng bốt. Dán xong vào nhà người dân họ mang bát cháo lên cho ăn, không ngờ vào đúng nhà Việt gian. Miếng cháo chưa vào mồm thì người ta chít mắt, lôi mẹ tôi lên đình đánh. Đánh mãi, mẹ cũng không khai.

Chúng bảo: "Của này phải chậu thau với cái dao bầu cắt tiết mới xưng” nhưng mẹ cũng không hề hé miệng. Đêm sau chúng mang mẹ lên đình đánh, bỏ vào bao gai vất ở góc núi Đối. Mẹ tôi khát nước đến nỗi phải đái ra tay mà uống. Mờ sáng, khi con gà gáy ke ke, mẹ nhìn ra thấy Tây đổi gác. Một thằng thức cả đêm buồn ngủ díp mắt, một thằng mắt đục, mới ngủ dậy còn kèm nhèm, thấy vậy mẹ liền bỏ trốn.

Đồn Tây lắm ống bơ cắm vào dây thép gai nên mẹ phải bám chặt vào cho ống bơ khỏi kêu rồi lần lần từng tầng thép gai mà ra, bò dưới sông, cải trang trốn thoát ra vùng giải phóng. Mười bốn tuổi bà bị tù ở bốt Vọng, hai người anh và chị đều chết cả. Ra tù, mẹ tôi nắm cơm cho vào ruột tượng bảo để ở miếu bà. Tôi hỏi: “Để làm gì hở bu?”. Mẹ bà bảo: “Cứ để đấy, cán bộ nấp ở sau khám thờ sẽ ra lấy”.

Hồi đó, sân miếu có ba đống rơm, nghi Việt Minh giấu vũ khí bên trong, Tây bắt dỡ hết hai đống đến đống thứ ba mới dỡ được một lớp mà chỉ một lớp nữa là thấy súng đạn giấu bên dưới bỗng nhiên Đức thánh mẫu hiển linh giật tay khiến thằng Tây hoảng hồn bỏ đi. Nó mà thấy súng đạn thì bốn làng trong tổng này tan ra nước, miếu bà cũng không còn một hòn gạch lành. Mẫu linh lắm! Ai thế nào mẫu biết hết…

 Sau chiến tranh, miếu bà bị tàn phá, cửa không có, ngói còn vài viên, nhà trống thiên, liền thổ, tan hoang cả. Mẫu hiển linh gọi đứa con thứ hai của tôi tên ở nhà là Bé lúc nó đang ngủ: Bé ơi đi ra dặm miếu. Thằng Bé dặm xong đói lả, nằm ngay trên nền đất ở trong miếu ngủ tiếp đến tối mới về. Cả nhà nháo nhác đi tìm. Gớm, đến lúc thấy nó thì hai dử mắt to tướng. Đêm đó phong ba gió hội ở đâu kéo về, mưa to lắm mà sáng ra miếu không hề bị sao.

Lúc đó tôi đang bị ốm gần chết, nợ tín dụng 60 đồng, ông Sùng dẫn cán bộ tín dụng đến chỉ trỏ: “Nó ốm gần chết, nay xóa nợ cho nó đi”. Một buổi, mẫu lại gọi tôi trong giấc mơ ra trông miếu rồi ở hẳn trong đó. Tôi khỏe mạnh hẳn từ bấy. Lúc đầu mới ra miếu còn không có một nén hương. Hậu cung bị sạt, tôi đội cái hoành lên đầu cho thằng con thứ hai ra chèn gạch vào mà trát.

Ở miếu, tôi cấy 3 sào lúa lấy thóc ăn, đi mót dãi khoai (củ khoai nhỏ) mò ốc, bắt cá bán lấy tiền tu sửa miếu, lúc thì mua gỗ làm dui mè, lúc làm hoành, làm cửa. Dân làng trú nắng, mưa ở cánh đồng đều chạy vào miếu. Mặc dù miếu tôi nằm giữa đồng lại có ba cây đa, hai cây bàng rất to nhưng sét chỉ đánh bên ngoài ầm ầm không chạm vào miếu. Gió có to mấy cây cũng không bị gãy cành.

Ra đây tôi cũng không quên góp của ai hào nào, đi bốc thuốc, bốc lá chữa bệnh. Một tháng ba mươi ngày thì ngày nào cũng đi đến chợ Đồn Riêng bán thuốc Nam. Ba năm nay yếu nên chỉ bốc thuốc ở miếu. Bình thường tôi còn tranh thủ mò cua bắt ốc trên cánh đồng cửa miếu đến lúc 80 tuổi vẫn mò. Chân lội đi nhiều mòn cả, ngón cái to cong như cái càng cua. Ngày tôi chỉ ăn một bữa, hôm nào các cháu trong làng ra tôi mới nấu hai bữa. Không dám mua cái ăn, hà tiện mới tu sửa miếu được chứ ra ở cửa thánh mà đòi ăn ngon, mặc đẹp đời sau con cái không gánh hết tội… “Lạy mẫu tố linh, con khai, có thế nào con nói thế đấy”.

Theo Nông nghiệp Việt Nam

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2010

Đàn sếu, trận chiến Điện Biên và bauxite Tây Nguyên

Đàn sếu, trận chiến Điện Biên và bauxite Tây Nguyên

Chuyện của đàn sếu

Khi tôi viết những dòng này thì Washington DC đang vào mùa Thu. Bên đường cao tốc, trong công viên, cây cối bỗng chuyển sang mầu vàng xen đỏ rực rỡ. Những cánh rừng đa sắc mầu pha nắng trời Thu phản chiếu trên mặt hồ phẳng lặng, đẹp đến mê hồn.

Hai cậu con trai chơi trong công viên đang chạy nhảy. Bỗng có tiếng kêu của đàn sếu bay qua. Hai đứa ngẩng lên và hỏi “Tại sao chim di cư lại bay thành hình chữ V”.

Tôi từng xem bộ phim đen trắng của Liên Xô “Khi đàn sếu bay qua” gây bao xúc động cho người xem về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của người Nga. Boris, người yêu của Veronica (nhân vật nữ chính trong phim), bị bắn chết ở đầm lầy, khi đang cứu một binh sĩ khác. Trước khi nhắm mắt, Boris bỗng thấy đàn sếu bay qua hình chữ V. Và chi tiết đó cũng nhắc lại trong đoạn kết của bộ phim khi Veronica ngước nhìn bầu trời khi nàng đứng trên sân ga.

Lúc đó 14-15 tuổi, tôi hỏi các anh chị lớn tuổi tại sao sếu lại bay như thế. Họ chỉ giải thích “V” là chữ Victoria – biểu tượng của chiến thắng.  Boris tin vào chiến thắng ngày mai và Veronica tin vào mùa Xuân đang đến vì đàn sếu quay về.

Sau này tìm hiểu kỹ, tôi mới biết chữ V của đàn chim di cư liên quan đến sự đoàn kết của bầy đàn. Con chim đầu đàn luôn là con khỏe mạnh nhất, thông minh nhất. Chúng dựa vào từ trường, dãy núi, cánh đồng, thành phố làm mốc, hướng mặt trời, trăng, sao để định hướng cho chuyến bay dài hàng ngàn cây số.

Bay hình chữ V có hình mũi tên mang tính khí động học, chim sau dựa vào con bay trước để bớt sức cản của gió, đỡ mất năng lượng hơn. Con đầu đàn mỏi cánh thì lùi lại cho chim khác tiến lên làm “lãnh đạo”. Cứ thế chúng thay đổi “vai trò” để cả đàn bay được rất xa.

Đó là sự kỳ diệu của thiên nhiên và những loài chim di cư. Chúng biết nương tựa vào nhau, vượt qua bao sông sâu, núi cao, tới một miền đất hứa khác để mùa Xuân sau lại quay về nơi chốn cũ. Sự tồn tại giống nòi dựa trên một triết lý đơn giản: dựa vào nhau và chia sẻ.

Nếu bay đơn độc, con chim không thể tới nơi cần đến cách xa hàng ngàn dặm. Có những đàn chim không tới đích và lao xuống biển, vì con đầu đàn đã định hướng sai, không biết lui khi đã mệt và nhường chỗ hay chia sẻ vai trò dẫn đường đúng lúc. Đó chính là nguyên nhân gây ra thảm họa của cả bầy đàn.

Dự án Bauxite Tây Nguyên và các nhân sỹ
Mấy hôm nay, báo chí đưa tin, bà Nguyễn Thị Bình và nhiều nhân sỹ trí thức đã gửi thư tới lãnh đạo Đảng và Nhà nước “khẩn thiết yêu cầu” xem xét lại việc khai thác bô-xít Tây Nguyên. Thảm họa bùn đỏ vừa qua tại Hungary cũng là một cảnh báo khác về dự án đang tranh cãi này.

Theo họ, việc xét lại dự án và nếu phải dừng thì cũng là “một quyết định rất đau đớn chưa hề có trong lịch sử kinh tế Việt Nam và sẽ là một tổn thất lớn mà nền kinh tế phải chịu đựng, nhất là Nhà máy chế biến alumina Tân Rai đã hoàn thành một phần lớn và đã làm được nhiều việc quan trọng trong triển khai dự án Nhà máy Nhân Cơ”.

Vụ bùn đỏ Hungary thật không may cho nước bạn, nhưng cũng là dịp hiếm có “nhìn lại mình” của chính chúng ta tại các dự án bauxite. Từ tai nạn của họ để rút ra bài học cho nước mình.

Nếu khai thác bauxite, những nhà khoa học lo mấy triệu tấn bùn đỏ trên Tây Nguyên như một quả bom hẹn giờ, sẵn sàng nổ bất kỳ lúc nào ngoài ý muốn của con người. Chưa kể một nền văn hóa lâu đời của Tây Nguyên sẽ bị “bùn đỏ” cuốn trôi. Khi đó một “tàu Vinashin” khác lại tiếp tục chìm và tầm ảnh hưởng về kinh tế, chính trị còn lớn hơn rất nhiều.

Không phải ngẫu nhiên mà các trí sỹ, kể cả Đại tướng dù đã 100 tuổi, rồi bà Nguyễn Thị Bình, đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ khai thác bauxite Tây Nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, an ninh quốc phòng và khả năng thất bại của dự án.

“Chỉ có lòng dũng cảm và ý thức trách nhiệm tuyệt đối với vận mệnh quốc gia” của các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước, cùng “sự thông cảm” của nhân dân cả nước “mới đủ sức đi tới thực hiện quyết định khó khăn này”, các nhân sĩ nhấn mạnh.

Điện Biên Phủ – chiến lược bàn lùi của vị tướng

Một blogger đã ví chuyện này như trận Điện Biên Phủ năm xưa.

Chúng ta còn nhớ ngày 14-1-1954, tại hang Thẩm Púa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi đó mới 43 tuổi, phổ biến lệnh tấn công mật với dự định tiêu diệt căn cứ Điện Biên Phủ trong 3 ngày đêm bằng chiến dịch biển người.

Mười ngàn (10.000) quân Pháp cố thủ trong hầm ngầm chọi với 50 ngàn quân Việt Minh phơi lưng trên cánh đồng trống trải.

Lẽ ra cuộc tấn công dự định vào ngày 20-1-1954 nhưng một đơn vị đại bác vào trận địa chậm nên ngày nổ súng được lui lại vào 25-1. Sau đó bị lộ nên ngày tấn công dự định vào 26-1.

Sau một ngày và đêm suy nghĩ, Đại tướng đã tìm ra vài nguyên nhân không thể thắng như, quân ta chưa thành công trong việc tấn công các cứ điểm lô cốt liên hoàn như của Pháp tại đây. Pháo binh và bộ binh chưa qua tập luyện, chưa qua diễn tập để tham gia một trận tấn công mang tính liên hoàn. Quân ta quen chiến tranh du kích, công đồn vào ban đêm trong khi lúc đó bộ chỉ huy mặt trận định mở cuộc tấn công vào ban ngày trên địa hình bằng phẳng trong lúc đối phương có ưu thế về hầm ngầm, máy bay, pháo binh và xe tăng hỗ trợ.

Sáng 26-1-1954, Bộ Chỉ huy mặt trận họp và không đi đến được ý kiến thống nhất.  Đại tướng hỏi, ai tin rằng trận này sẽ chắc thắng, không ai trả lời được. Vị tướng trẻ tài ba đã quyết định hoãn cuộc tấn công chiều hôm đó.

Ông cho rằng, phương án “đánh nhanh thắng nhanh” mang nhiều tính chủ quan, không đánh giá đúng thực lực hai bên không thể đảm bảo chắc thắng. Vị tướng quyết định tổ chức lại trận đánh theo phương án “đánh chắc thắng chắc” dài ngày theo kiểu “bóc vỏ” dần tập đoàn cứ điểm.

Số phận của đế chế Pháp tại Đông Dương được quyết định bởi chiến lược…“bàn lùi” của Đại tướng.

Pháo đã kéo vào trận địa, quân đã ém, sẵn sàng đợi lệnh tấn công. Nhưng phút chót phải kéo pháo ra, rút quân khỏi chiến hào. Cuộc chiến không phải 3 ngày mà kéo dài 55 ngày đêm kể từ trận xuất kích đầu tiên vào tháng 3 năm đó.

Theo lời kể của Đại tướng thì đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Làm tướng phải biết cương nhu, biết tiến, biết lùi. Nếu chỉ dùng ý chí và thuật biển người thì số phận của nước ta có thể đã khác.

Quyết định của ông gây hệ lụy cho hàng trăm ngàn binh lính, dân công, và cả nước phải chờ thêm 5 tháng nữa thay vì 3 ngày.  Một sự tốn kém khủng khiếp nhưng quyết định “lùi” đó có thể đã tránh cho dân tộc này một đại bại trong chiến tranh và một thảm họa lịch sử.

Một người bạc tóc hay 85 triệu người bạc tóc

Chuyện đàn sếu và dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên không liên quan gì đến nhau. Và chiến trận Điện Biên cũng không có gì ảnh hưởng đến khai thác quặng. Nhưng có vài điểm đáng học ở loài chim di cư và thủ thuật binh pháp của tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia, trong những thời điểm nhậy cảm, nhiều vị lãnh đạo đã phải biết “lùi” đúng lúc để đưa đất nước tiến lên hay tránh thảm họa.

Người lãnh đạo cũng như con chim đầu đàn của đàn chim di cư. Đưa con thuyền dân tộc tới bến là do người cầm đầu. Làm cho con tầu chìm giữa biển khơi cũng phần lớn do người cầm lái. Người lãnh đạo biết chia sẻ trách nhiệm với nhân dân thì con tàu quốc gia sẽ đi xa.

Nếu chỉ biết lo cho mỗi cá nhân mình hay lợi ích nhóm thì giống như con chim đầu đàn tham quyền cố vị, dù già cỗi và mệt mỏi nhưng không muốn nhường ghế, để cuối cùng cả đàn mất phương hướng và lao đầu xuống biển.

Vị tướng 43 tuổi thời Điện Biên biết…“bàn lùi” trước khi quá muộn. Rất có thể ông nhớ đến Tôn Tử binh pháp “Biết người biết ta, trăm trận không nguy. Không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua. Không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại”.

Khi quyết định khai thác bauxite Tây Nguyên liệu người duyệt dự án cao nhất đã hiểu hết người xưa định nói gì? Hoặc đơn giản, chỉ cần học lại lịch sử Điện Biên Phủ hay đọc hồi ký của Đại tướng về sự “nhu cương”, “tiến lùi” đúng lúc, có thể tránh được hiểm họa tương lai.

Có ai ngồi suy ngẫm về khả năng thất bại của dự án như tướng Giáp đã từng thức trắng đêm khi ngồi trước bản đồ lòng chảo Điện Biên tại hang Thẩm Púa năm xưa?

Để một người bạc tóc, hay cả dân tộc 85 triệu phải bạc tóc.  Đó chính là cái tâm, cái tầm của người lãnh đạo quốc gia.

Chợt nhớ câu hỏi của hai con. Tôi giải thích cho các cháu rằng, chữ V của đàn sếu bay qua là biểu tượng của sự đoàn kết, chia sẻ trách nhiệm của bầy đàn. Chính điều đó đã mang đến mùa Thu vàng phẳng lặng, các con vui chơi hạnh phúc dưới trời xanh. Bởi vì dân tộc ấy biết học cách tồn tại của những đàn chim di cư.

Khi đó mới mong có được biểu tượng hình chữ V (Victoria – chiến thắng)  và kể cả chữ Việt Nam bay trên trên bầu trời nhân loại.

Hiệu Minh. 24-10-2010

Trích từ Blog Hiệuminh http://hieuminh.org/2010/10/25/dan-seu-dien-bien-va-tay-nguyen/#comment-8851