Hiển thị các bài đăng có nhãn xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011

Làm ăn kém nên nghèo , bởi nghèo nên xấu tính

Chúng ta nghèo do quản lý yếu kém, tham nhũng đã rõ. Nguyên nhân đã được phân tích trên nhiều nguồn khác nhau, từ chính thống đến phi chính thống, nhưng có lẽ bài viết sau đã nêu thêm một nguyên nhân: tính xấu cố hữu của người Việt. Đã là bản tính cố hữu thì từ quan chí dân ai cũng mắc phải. Những ông quan thời nay không phải do thi thố tài năng để có được chức tước nên không tránh được cái tính xấu của người thường. Có lẽ vì vậy nên chỉ đạo hệt như một anh nông dân với mớ kiến thức vô dụng của thời chủ nghĩa xã hội. Nói vô dụng ở đây vì bây giờ là thời hội nhập và toàn cầu hoá, anh không thể mang kiểu quản lý ra lệnh, bắt ép như trước. Có thể ra lệnh cho dân trong nước những không thể ra lệnh cho quốc tế. Mà ra lệnh trong nước nhiều khi cũng chẳng nổi. Lạm phát, giá cả tăng vùn vụt. Họp hành, ra lệnh đâu có ăn thua. Vừa bàn xong “7 nhóm giải pháp, biện pháp” chi đó lập tức giá lên ào ào như một sự mỉa mai.
Chừng nào những người quản lý nhà nước chưa thấm được nỗi khổ do tính xấu của dân tộc mà chỉ thấy tự hào chừng đó nước ta còn khổ.
Sau đây là nội dung bài viết.


Làm ăn kém nên nghèo , bởi nghèo nên xấu tính


Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật thích viết rằng  những người làm tranh Đông Hồ chỉ là những người nông dân lúc rỗi rãi thì vẽ thêm tranh. Mục dích của họ cốt cho người ta thấy nghệ thuật ở VN “ gắn liền với đời sống “. Có biết đâu làm thế chỉ là một cách tốt nhất để phô ra một sự thật  :trong xã hội VN, trình độ sống và làm việc là thiếu chuyên nghiệp. Không sớm có sự phân công lao động.Con người nhởn nhơ dông dài ngay trong sự chăm chỉ của mình .
Tình trạng của nghề làm tranh cũng là tình trạng của nghề dệt, nghề đúc đồng,nghề làm muối, nghề làm đồ gốm, cả nghề làm ruộng… Chỗ nào người ta cũng thấy sự ngưng trệ. Kỹ thuật cổ lỗ. Năng suất thấp.
“ Cối xay tre, nặng nề quay, từ ngàn đời nay, xay nắm thóc “. Trong lời thuyết minh viết cho phim  Cây tre Việt Nam 1955, Thép Mới từng viết một câu văn xuôi mang đầy chất thơ để hằn sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ học sinh tiểu học như vậy. Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, nó gợi một cảm giác về sự nhẫn nại bất khuất kiên cường. Nhưng sang đến thế kỷ XXI này đọc lại thấy dấu hiệu của một cuộc sống ù lì tăm tối .
Người Việt tự nhủ Đói cho sạch rách cho thơm. Ảo tưởng nhắc lại mãi nghe như có lý. Song khi người ta quá nghèo thì khó lòng giữ được sự tử tế. Chính nhiều người từ xa tới đến đây cũng sớm hiểu điều đó.
Trong cuốn Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài 1688,(bản của NXB Thế giới, 2006) một nhà thám hiểm người Anh là  W.Dampirer ghi lại một nhận xét chung: “Cư dân ở đây rất lễ độ và thật thà với người nước ngoài, nhất là những người đến giao dịch và buôn bán. Những kẻ quyền quý thì tỏ ra kiêu căng, hách dịch và tham lam trong khi đám lính tráng  thì hỗn xược.”
Rồi ông ghi thêm “ Cư dân lớp dưới lại hay trộm cắp làm cho nhà buôn  và những người đến giao dịch ở đây bắt buộc phải canh gác cẩn thận về đêm “.
Điều đáng nói là  W.Dampirer đã có cách riêng để giải thích hiện tượng này. Trước đó nhà cửa người Việt ngay ở Kẻ Chợ, tức thủ đô, được tác giả mô tả là quá đơn sơ tầm thường. Nhà  nhỏ và thấp. Mấy tấm phên che dột nát tạm bợ. Bên trong chia làm nhiều gian, mỗi gian có những cửa sổ để lấy ánh sáng thực chất là những lỗ đục xấu xí. Theo W.Dampirer, nhà cửa như vậy thường làm mồi cho bọn người trộm cắp. Chúng có thể dễ dàng thực hiện mưu đồ đào tường khoét ngách.
Khó lòng kể hết những dấu ấn mà sự thấp kém về trình độ sản xuất để lại trong tính cách người Việt.
Trước tiên là một tâm lý tự ti mệt mỏi không thấy hứng thú trong lao động.
Đã nhiều người gặp nhau ở nhận xét là người Việt rất chăm chỉ năng động. Nguyễn Văn Vĩnh tỏ ra tinh nhạy hơn người khi nêu cùng lúc cái tình trạng nước đôi : người Việt vừa cần cù , vừa cho người ta cảm thấy họ coi lao động là bất đắc dĩ, chẳng qua không có cách nào khác nên phải chân lấm tay bùn vậy.
Xã hội thiếu đi sự năng động tìm tòi.
Nhà nho xưa nhiều người kiêm cả thày lang. Trong một lần so sánh văn hóa Trung quốc và VN, Phan Ngọc nhắc lại cái ý mà nhiều thế hệ nho sĩ truyền miệng với nhau. Đó là một nhận xét của người Tàu: người Việt sống trên cả đống  nguyên liệu dùng làm cây thuốc nhưng vẫn chết vì thiếu thuốc .
“Việc lớn thì kinh, việc nhỏ thì khinh, việc bình thường thì không thích “–  thái độ người mình với công việc được Nguyễn Tất Thịnh cô lại trong  một nhận xét thật gọn ghẽ ( Tiền phong,6-10-06).
Nhiều nhân vật trong những truyện cười dân gian là những chàng lười. Ca dao hóm hỉnh dựng lại một  chân dung, ngày nay ta tưởng là bịa, song thực ra rất sẵn trong nông thôn VN thời trung đại : “ Con có đậu cọc cầu ao / Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng /  Chú tôi tốt tóc đen răng / Hay ăn làm biếng hay nằm ngủ trưa / Ngày thì ngóng những ngày mưa / Đêm thì ngóng những đêm thừa trống canh ”.
Vốn rất thông minh nhạy cảm nên không phải là người Việt không biết thực trạng kém cỏi trong làm ăn sản xuất của mình. Nhưng do thiếu sự mở đường của trí tuệ nên người ta cảm thấy đó là cả một định mệnh. Thấy  của thiên hạ cái gì cũng hơn mình. Bất lực.Cay đắng. Chán chường.
Một niềm tự ti nằm rất sâu trong tâm lý, mang lại nhiều biến thái : lo học nhưng chỉ học mót học lỏm ;  sợ người ta  coi thường nên phải tìm cách nhấn mạnh cái riêng , và nhắc đi nhắc lại rằng mình chẳng kém gì mọi người. Sống gồng lên ra vẻ thế nọ thế kia, sẵn sàng giả dối cốt sao khỏi bị mất mặt.
W.Dampier, trong cuốn sách của mình, còn ghi nhận một điều mà sau này các nhà nghiên cứu văn hóa VN từ Phan Kế Bính Đào Duy Anh tới Nguyễn Văn Huyên Lương Đức Thiệp đều chia sẻ, là thói máu mê cờ bạc của người Việt. Giàu tham việc thất nghiệp tham ăn,–khi rỗi rãi người ta lao đầu vào cuộc đỏ đen một phần là vì bế tắc trong cuộc sống. Toan tính duy nhất ở đây là ngẫu nhiên tìm được một cơ may giữa đời sống tuyệt vọng.
Vương Trí Nhàn

Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010

Biết rồi… khổ lắm… nói mãi!

Trong đời sống thường nhật, có không ít người thích đem cái quá khứ vàng son (chứa rất nhiều hoang tưởng) để che đậy những yếu kém và thất bại hiện tại. Cái "tôi" của họ quá lớn để chịu đựng bất cứ một lời phê bình hay chê bai nào, dù vô tình hay nhỏ nhặt.

Dân gian có câu "biết rồi, khổ lắm, nói mãi..." để chọc quê những nhân vật thích nói.... và nói, dù rằng câu chuyện của họ chỉ là một sự lặp đi lặp lại những gì mọi người đã chán chê. Trong cuộc sống gia đình, các bà vợ lắm mồm và các bậc cha mẹ độc tài quyết đoán là những tác nhân thường xuyên cho hiện tượng này.
Bệnh sĩ diện "hão"
Không riêng ở Việt Nam, đây là một vấn nạn phổ thông cho các ông chồng khắp thế giới. Một người Mỹ than phiền với bạn, cả 50 năm nay, anh ta không nói một lời nào với vợ. Anh bạn hỏi lý do và anh ta đáp, "Tôi không dám ngắt lời bà ta". Nhưng người già thì đỡ hơn, họ phải đeo máy trợ thính và chỉ cần lén tắt máy là lỗ tai được sống yên ổn.
Tôi có một ông chú họ ở California, già và nghiêm khắc, mỗi sáng thứ bảy đều bắt con cháu ngồi xếp hàng nghe ông giảng "đạo". Ông thường nói về những quá khứ huy hoàng của mình lúc xưa, về luân lý và văn hóa của tổ tiên dòng giống và về cách hành xử của một bậc quân tử. Nhưng con cháu đều thừa biết về mọi thói hư tật xấu của ông... dối vợ chơi bời, gạt gẫm bạn bè, lấy tiền welfare (trợ cấp của chính phủ) và tiền con cháu cho đi đánh bạc, nợ nần tứ xứ và thích "nổ" về mọi chuyện lớn nhỏ. Lý do con cháu còn chịu khó ngồi nghe vì ông đã gần đất xa trời và lòng tôn kính các bậc trưởng thượng vẫn tiềm tàng rất mạnh ở các cộng đồng người Việt hải ngoại.
Tật thích nói và nói, không muốn ai tranh luận hay phản biện này, theo lớp Tâm lý học sơ đẳng dạy ở các đại học, thường thể hiện ở những người thiếu kiến thức, nhiều mặc cảm tự ti, nghèo hèn về ý tưởng mới và có nhu cầu cao về sĩ diện "hão". Họ không muốn ai bàn ra tán vào vì sợ để lộ cái "dốt" của mình. Họ muốn mọi người phải im lặng vì bất cứ giải pháp hay sáng kiến gì họ đưa ra đều thiếu chuyên môn và chiều sâu, không đủ biện luận để chống đỡ một phân tích hay nghiên cứu bài bản. Họ thích đem cái quá khứ vàng son (chứa rất nhiều hoang tưởng) để che đậy những yếu kém và thất bại hiện tại. Cái "tôi" của họ quá lớn để chịu đựng bất cứ một lời phê bình hay chê bai nào, dù vô tình hay nhỏ nhặt.
Sự quyết đoán trong tư duy của các nhân vật này thường được đóng khung trong những nguyên tắc "bất khả xâm phạm", được thiết lập từ thời xa xưa, khi con người vẫn còn loay hoay với chén cơm manh áo. Họ rất sợ sệt khi phải đối diện với những tiến bộ của kỹ thuật và nhân sinh quan, sợ thế giới của Internet và nền kinh tế mới.
Họ quá già cỗi để thích nghi vào xã hội mới của "ngôi làng toàn cầu" (global village) nhưng họ lại không muốn để con cháu tự đi tìm định mệnh cho riêng chúng. Họ cho mình cái quyền áp đặt một con đường duy nhất chúng phải đi.
Những con người như vậy đã hiện diện suốt trong lịch sử loài người. Giới lãnh đạo khoa học và tôn giáo đã dùng uy quyền của họ để cầm tù và giết chết Galileo khi ông này đưa ra giả thuyết là trái đất tròn. Xưa hơn nữa, các triết gia Hy Lạp đã bắt Socrates uống thuốc tự vẫn vì những triết thuyết ông đề xướng nghe trái tai với niềm tin lỗi thời của họ. Việc đầu tiên các bạo chúa, từ Tần Thủy Hoàng đến Hitler, Kim Il Sung, thích làm khi lên nắm quyền là đốt sách để tránh những phản biện tri thức. Chỉ tội cho các nhà lãnh đạo ngày nay, kho tàng hiểu biết của nhân loại nằm trong "đám mây" (cloud computing), không biết làm sao đốt được.
Không ai có thể độc quyền kiến thức
Cách đây 10 năm, tôi có dạy vài khóa học cho lớp EMBA ở Đại học Tong Ji và Fudan ở Thượng Hải. Tôi nói với sinh viên là không ai có thể độc quyền về kiến thức; và phương thức dạy của tôi là đào sâu nắm kỹ một vấn đề, rồi đem vào lớp để tranh luận phản biện, càng nhiều quan điểm khác nhau càng phong phú. Nó tăng cường sự hiểu biết của sinh viên về các đề tài này. Chỉ tiếc rằng, sinh viên Trung Quốc đã có tập quán thụ động, vì đã quen với lối giáo dục một chiều, giảng viên hay sách vở nói sao thì lập lại như một con vẹt, không có một chút sáng tạo hay cố gắng gì của riêng mình. Tôi bỏ dạy vì không tìm ra một động lực gì hào hứng trong môi trường buồn tẻ đó.
Quay qua chuyện quản trị doanh nghiệp hay chính phủ cũng vậy. Tôi đã từng dự nhiều buổi họp nhân viên mà vị Giám đốc nói và nói, giờ này qua giờ nọ. Nhân viên thì sốt ruột nhìn đồng hồ liên tục. Hay các quan chức chính phủ, bắt cả ngàn học sinh đứng dưới nắng gay gắt của buổi trưa, nghe ngài phát biểu vài ba giờ về những đề tài mà các em nhỏ này hoàn toàn không có ý niệm. Những nhà quản lý có tư duy này thường dùng thế lực chính trị để tạo cho doanh nghiệp mình những độc quyền và đặc quyền, vì họ biết rằng họ không đủ sức cạnh tranh trên một sân chơi bằng phẳng. Vừa làm vận động viên vừa làm trọng tài thì chiếc cúp vô địch phải về tay mình.
Trong môi trường tư duy đó, ta thường thấy cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp hay chính quyền rất hoành tráng, quy mô và nhiều bệnh hình thức. Các luật lệ thì phức tạp, mâu thuẫn, khó hiểu để không ai phải chịu trách nhiệm và cũng không ai có thể kiểm soát được.
Năm 2001, tôi được mời qua New Delhi dự hội thảo về cải tổ cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần kinh doanh (entrepreneurship). Đây không phải là lĩnh vực chuyên môn của tôi, nhưng một giáo sư người Úc bị bệnh vào giờ chót đề nghị tôi thay thế.
Trong đề tài thảo luận, những phương thức cải tiến bộ máy hành chính của chính phủ được đặt ra. Trước mắt ngài thứ trưởng Kế hoạch của Ấn Độ, tôi nói một giải pháp rất đơn giản và không tốn kém là sa thải 50% toàn bộ công chức và tăng lương gấp đôi cho những nhân viên còn lại. Tôi đảm bảo bộ máy sẽ không bị thiệt hại một chút gì và sự đơn giản hóa những thủ tục rườm rà của hệ thống hành chính sẽ giúp kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn. Tôi cũng tin là hệ số tăng trưởng GDP của Ấn Độ sẽ tăng ít nhất là 30% so với hiện tại. Ông ta không trả lời vì nghĩ tôi chỉ nói đùa để kích hoạt không khí buồn tẻ của cuộc họp.
Xã hội sẽ ra sao khi người dân cố tình "tắt máy trợ thính"
Tuần rồi tôi đến New York gặp vài đối tác làm ăn và được mời đi ăn vào buổi tối khi kết quả các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Quốc hội Mỹ đang được truyền hình truy cập từng phút một. Tiệm ăn sang trọng nổi tiếng với khách hàng phần lớn là các đại gia Wall Street. Họ chăm chú theo dõi, bàn tán ồn ào như coi một trận bóng đá chung kết. Khi một ứng cử viên của đảng Dân chủ (phe Obama) thua, một vài tràng pháo tay vang dậy.
Trong khi đó, khi được khảo sát về lý do đã khiến họ giận dữ và "ném các tên khốn kiếp khỏi chính trường" (throw the bastards out), 38% các cử tri Mỹ lại cho rằng sự suy thoái kinh tế hiện nay là do lỗi tham lam của chính các đại gia và ngân hàng ở Wall Street và chính quyền Obama đã che chở cho những tên "tội phạm" này. Nói chung, mọi người đều nhìn thực tại theo góc cạnh cá nhân chủ quan của mình hay của phe nhóm mình.
Cả hai phía đều là những công dân già dặn, khôn ngoan, không ngây thơ để hiểu rằng, kết quả cuộc bầu cử này có lẽ không làm thay đổi nền kinh tế chính trị nước Mỹ hay chính đời sống cá nhân của họ bao nhiêu. Họ chỉ có một tham vọng độc nhất là đem vấn đề ra công khai tranh luận và quyết định; và họ sẽ thỏa mãn với phiếu bầu của mình, dù trúng hay sai trong tương lai. Đây là sức mạnh tiềm ẩn lớn nhất của xứ Mỹ và những xã hội mở rộng: họ tin rằng càng nhiều góc cạnh của vấn đề được nghiên cứu, suy xét, càng nhiều cơ hội đến gần với giải pháp.
Tôi còn nhớ một thí nghiệm bạn tôi đã làm ở đại học 45 năm về trước: một con chó bị nhốt lại trong chuồng và bịt miệng không cho sủa trong 7 ngày. Dù vẫn được cho ăn uống đầy đủ, sau khi thả ra, con chó bị những triệu chứng biến thái về tâm lý: trở nên hung dữ, thích cắn và sủa, bị táo bón, sức đề kháng yếu hẳn và không còn trung thành với chủ như trước.
Xã hội nào cũng đầy những bức xức giận dữ của các người dân khi nhìn những trái tai gai mắt hàng ngày. Ở các xã hội được cơ hội bày tỏ sự bức xức này bằng là phiếu hay tự do ngôn luận, người dân thường thoải mái và hành xử văn minh hơn trong các giao tiếp. Có lẽ vì nhu cầu phải "sủa" là một đòi hỏi của thiên nhiên cho tất cả mọi sinh vật, không chỉ riêng cho loài chó? Một xã hội mà phần lớn các người dân tắt máy trợ thính để khỏi phải "nghe", là biểu tượng của một sự tuyệt vọng tột cùng.

Theo TuanVietnamnet

Thứ Hai, 1 tháng 11, 2010

Phản biện xã hội và được mất khi dừng dự án bô-xít

Chuyện bô-xit không ngờ lại mang nhiều sắc vẻ. Ngày đầu tuần được đọc bài trên VNR500 nói về được mất trong chuyện bô-xít nhưng không phải được mất về tiền của, về môi trường mà là một thứ vô hình nhưng cũng vô giá.

(VNR500) - Tạm dừng dự án bô-xít như kiến nghị của đại đa số nhân dân, cái được lớn đến mức không có gì so sánh được. Nhiều cái mất đi là những cái được rất quý: Mất mà là được.
Khi con người tác động vào tự nhiên bao giờ cũng có hai mặt được và mất. Đây là bài toán đánh đổi, đòi hỏi phải làm sao cho cái được lớn nhất và cái mất là ít nhất.
Làm việc thì đương nhiên có thành công và có thất bại, có công và kể cả có tội hay gọi là "lỗi" cho nhẹ. Nhưng ở nước ta do cơ chế chính sách chưa hoàn thiện giữa quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm nên nhiều việc lớn, nhạy cảm, khi xảy ra sự cố, người ta luôn có cách để "thoát hiểm".
Quả thật, chuyện dự án bô-xít Tây Nguyên gây nên sự bức xúc trong nhân dân, đang lên đến đỉnh cao trào và là phép thử thực sự cho tiến trình dân chủ của đất nước.
Nhiều chuyên gia, nhân sỹ, trí thức và đông đảo nhân dân ở trong và ngoài nước đã đồng loạt kiến nghị Đảng và Nhà nước dũng cảm dừng dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên dựa trên nhiều phân tích sâu sắc ở các góc độ khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường rất khách quan và thuyết phục. Kiến nghị đó được sự đồng thuận và nhất trí rất cao của nhân dân.
Động viên, khuyến khích phản biện
Trước khi đi vào phân tích được và mất nếu dừng dự án bô-xít Tây Nguyên, chúng ta cùng nhau nhìn nhận về vai trò và tác động của phản biện xã hội đối với việc quản lý, điều hành và phát triển đất nước.
Tôi không biết ai đặt ra chữ phản biện, vì nhiều người cho rằng nó xuất xứ từ chữ "counter-argument".
Chúng ta đều biết rằng người phản biện không phải bao giờ cũng là người chống lại bằng cách vạch ra những sai hỏng, những yếu kém của đề án, của công trình, mà nhiều khi người phản biện đồng tình, hoan nghênh, ca ngợi, và bao giờ người phản biện cũng nêu cả hai mặt ưu điểm và khuyết điểm rồi đề ra giải pháp khắc phục.
Tập kết nguyên vật liệu để xây dựng nhà máy bô-xít Tân Rai (ảnh thongtinberlin)
Theo đó, phê phán không chỉ có nghĩa là phản đối, mà có nghĩa rộng hơn cùng với vạch ra sai hỏng và khuyết điểm còn bao gồm cả bình luận, đánh giá, phát hiện, biểu dương, tiếp thu những ưu điểm và khơi gợi những ý tưởng mới để tiếp tục khai phá.
Phản biện là nhu cầu tất yếu của cuộc sống. Phản biện vô cùng cần thiết đối với bất cứ xã hội nào để ổn định và phát triển bền vững.
Phản biện xã hội là sự đóng góp một cách khách quan, từ nhiều góc độ nhằm giúp cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện, đầy đủ và chính xác hơn vì lợi ích của cả dân tộc, của đất nước.
Ngoài ra, phản biện xã hội còn giúp cho Chính phủ củng cố niềm tin và  sự ủng hộ của dân chúng trong các quyết sách thông qua việc lắng nghe và tiếp thu các ý kiến của người dân thành hành động cụ thể.
Vấn đề phản biện xã hội được đề cập rất nhiều trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước.
Đơn cử như Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ "Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 125).
Quan trọng và rõ ràng hơn, thể hiện sự khẳng định của Đảng là: "Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ" (như trên, trang 135).
Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) chuẩn bị trình Đại hội XI của Đảng nêu rõ: "Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội".
Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020" chuẩn bị trình Đại hội XI cũng nhấn mạnh: "Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển quan trọng. Quy định chế độ cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trước nhân dân".
Dự thảo Báo cáo chính trị chuẩn bị trình Đại hội XI có câu: "Mặt trân Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân, thực hiện dân chủ ở cơ sở, giám sát và phản biện xã hội".
Đọc những câu trên đây trong văn kiện của Đảng, so sánh những câu ấy với nhau, đối chiếu với những việc làm của Đảng, của Nhà nước và với thực tế gần 5 năm qua, từ giữa tháng 4 năm 2006 đến cuối tháng 10 năm 2010, thấy rõ có nhiều điều rất đáng suy ngẫm.
Đảng và Nhà nước khởi xướng, khuyến khích xã hội dân sự và động viên người dân phản biện xã hội.
Với sự tham gia của nhân dân, Đảng và Nhà nước xây dựng và nghiêm chỉnh thực hiện quy chế xã hội dân sự và người dân phản biện xã hội, nội dung chủ yếu của quy chế ấy là: khi nhận được ý kiến phản biện xã hội, Đảng và Nhà nước nghiên cứu kỹ và trả lời chính thức, tùy loại vấn đề, sau một thời gian nhất định, không dài, phần nào đồng ý thì đưa vào chương trình hoạt động và thi hành ngay, phần nào chưa đồng ý thì đối thoại bình đẳng, thẳng thắn với tổ chức hoặc người phản biện xã hội để đi đến đồng thuận.
Xã hội dân sự không bao gồm cá nhân từng người. Tác nhân phản biện xã hội rộng hơn xã hội dân sự, là các tổ chức của xã hội dân sự và cá nhân từng người, trong đó có thể có, và ở ta đã từng có, sự phản biện xã hội của cả những công chức nhà nước và cả các nhân sĩ là đảng viên.






Con đường bụi đỏ dẫn vào nhà máy Tân Rai (ảnh thongtinberlin)

Nhân dân tiến hành phản biện xã hội đích đáng, có hiệu quả cao là một công trình lâu dài, gắn liền với dân tâm, dân trí, dân sinh, dân quyền được nâng cao, gắn liền với sức chủ động và sáng kiến của dân tộc, với sự tận tụy và tài năng của những người phục vụ dân tộc trong công cuộc phản biện xã hội này.
Phản biện xã hội đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, và nhất là đòi hỏi sự chuẩn bị chuyên nghiệp, trí tuệ, quan niệm đúng, cách làm đúng, bước đi thiết thực, không phải là ồn ào, sốc nổi kiểu phong trào và chiến dịch mà có thể thành công.
Suy cho cùng, phản biện xã hội là ý thức trách nhiệm của công dân đối với sự phát triển của đất nước.
Dừng dự án bô-xít: Mất mà được
Nhờ có phản biện xã hội, người dân mới biết được thực trạng tình hình của đất nước. Bô-xít Tây Nguyên là một trong những dự án gây nhiều tranh luận đối với người dân Việt Nam.
"Con tàu" bô-xít Tây Nguyên đang chuẩn bị ra khơi, dường như hình như chủ và lái tàu đã cảm nhận được sự bất an, nguy hiểm của hành trình.
Bằng chứng là Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang phát biểu: "Chuyển nhà máy xuống bờ biển về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế thì đưa xuống biển là hợp lý nhất. Nhưng Bộ Chính trị yêu cầu để trên Tây Nguyên vì không chỉ là yếu tố kinh tế mà còn là yếu tố xã hội. Để nhà máy trên đó giúp phát triển Tây Nguyên.
Chính vì thế hiệu quả kinh tế không cao và giờ thêm khảo sát, thuê tư vấn xem xét lại, tính thêm phương pháp thải khô thì chưa biết sẽ tác động đến hiệu quả thế nào, chắc chỉ tác động xấu đi thôi..." (Tuổi Trẻ ngày 25/10/2010).
Dự án bô-xít liên quan đến việc sử dụng tiền thuế của dân cho nên người dân có quyền đặt ra các câu hỏi:
Một là: Theo nguyên lý nhà kinh doanh, cụ thể là Bộ Công Thương và Tập đoàn Than Khoáng sản (TKV), khi tiến hành dự án là phải tính làm sao cho có lãi, nhà đầu tư dù phải tuân thủ chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước, nhưng "nhiệm vụ chính trị" phải chăng là trách nhiệm của các chính khách trước quốc dân?
Hai là: Xin hỏi riêng ông Thứ trưởng: (1) Nội dung quyết định của Bộ Chính trị cụ thể là như thế nào? (2) Bộ Chính trị quyết định khi nào, tại cuộc họp nào? (3) Có văn bản quyết định không? Văn bản do ai ký? Ban hành vào thời gian nào?
Từ thực tế, có thể nói rằng phản biện xã hội về dự án bô-xít Tây Nguyên chưa được coi trọng và thực hiện theo đúng quy trình phát triển của đất nước.
Người dân không được thấy có biểu hiện nào thể hiện phản biện xã hội đã được chấp nhận như một trong những quy trình phát triển đất nước như các văn kiện của Đảng ta kỳ vọng.
Nhiều người dân chỉ được biết đến dự án khi được đọc các lá thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Đảng và Chính phủ. Có thể nói những dòng tâm huyết của Võ đại tướng về vấn đề này đã gây tiếng vang lớn trong xã hội. Nhiều tầng lớp nhân dân xưa nay vốn bàng quan và thụ động với các dự án vĩ mô, nay cũng phải để tâm và nhiều người đã sôi nổi góp ý kiến với Đảng và Chính phủ.
Nếu bây giờ dừng dự án bô xít được và mất gì?
Cái mất là mất tiền đã đầu tư vào dự án, làm thất vọng những người trong cuộc, ủng hộ dự án, kể cả đối tác và quyền lợi của một số nhóm lợi ích.
Cái được mà ai cũng nhận thấy là được lòng dân, không tiếp tục đổ tiền, lãng phí tiền thuế của dân vào một dự án không hiệu quả về kinh tế, tác động xấu đến môi trường, bất an về xã hội, phá hỏng nền văn hóa Tây Nguyên. Cái được ở đây còn là dịp để Chính phủ chấn chỉnh công tác tham mưu, rà soát lại mục tiêu phát triển dự án.
Nếu quyền lợi dân tộc và đất nước được minh bạch và bảo đảm thì cũng là dịp cho những người lãnh đạo được vẻ vang với nhân dân.
Lệnh tạm đình chỉ dự án, để nghiên cứu một cách toàn diện, đánh giá một cách độc lập khách quan toàn bộ dự án sẽ làm người dân tin tưởng ở Chính phủ, đây là điều không tiền bạc nào có thể mua được. Nếu sau khi nghiên cứu kết quả là phải đình hẳn thì hoàn toàn đủ lý do giải thích cho đối tác hiểu rằng bất cứ Chính phủ nước nào muốn tồn tại cũng phải được lòng dân, phải nghe dân.
Việt Nam rất thành công trong cương vị chủ tịch ASEAN năm 2010, đóng góp quan trọng vào một bước tiến mới tích cực của ASEAN. Về mặt đối nội, lợi thế này hoàn toàn cho phép Chính phủ xử lý đúng đắn vấn đề bô-xít.
Đây cũng là thời cơ thực hiện những biện pháp mạnh để dứt điểm hậu quả Vinashin, sẽ là bài học cần có cho các nhà quản lý, chắc chắn sẽ nâng cao uy tín của Chính phủ. Lựa chọn tối ưu lúc này đối với Chính phủ là thể hiện bản lĩnh sẵn sàng đối mặt với khó khăn, thẳng thắn mưu cầu giải pháp đối với thách thức và chính trực trong hành động.
Quốc hội đã đi tiên phong  trong việc bỏ phiếu dừng dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam. Nếu Chính phủ cho tạm dừng dự án bô-xít chính là khởi động cho xã hội dân sự phát triển mạnh mẽ.
Đây sẽ là một điểm son trong lòng dân tộc, là bước đi tất yếu trên con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn từ năm 1945, đó là xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dân sẽ giàu và nước sẽ mạnh.
Thay lời kết
Câu chuyện bô-xít vốn là việc day dứt không yên ở nước ta trong nhiều năm qua, nay lại đang "dậy sóng" vì sự kiện bùn đỏ Hungary. Vì sao biết dự án có nhiều mất hơn là được nhưng một số ý kiến vẫn bày tỏ mong muốn triển khai?
Tạm dừng dự án bô-xít như kiến nghị của đại đa số nhân dân, cái được lớn đến mức không có gì so sánh được. Nhiều cái mất đi là những cái được rất quý: Mất mà là được.
Điều đáng nghĩ là những cái mất. Mất tiền mà được kinh nghiệm cho đời đời con cháu lại là cái được dù phải trả giá. Không ai oán trách việc mất mát khi làm điều phải. Cái được cái mất bao giờ cũng là bài toán cho ra nhiều lời giải.
Mất mà lại được. Lòng dân đã rõ. Người dân đang mong ước bước chuyển đổi lớn trong tư duy của người lãnh đạo với tinh thần đã làm nên sức mạnh cho dân tộc ta từ ngàn xưa trong gian nan thử thách: Hãy trung với nước và hãy hiếu với dân.

Theo VNR500, ngày 01 tháng 11 năm 2010